1. Những ai Cố tình Spam link với số lượng nhiều ( tối đa 3 link ) trong 1 bài viết hay trong 1 COMMENT bài viết cũ hay mới cũng và ở chữ kí đều bị Ban nick hoặc xóa nick hoặc Filter domain ( Cấm domain đó xuất hiện tại Forum này ). Xem thêm tại: Đặt link tại bài viết và chữ kí

Cách sử dụng photoshop cs4

Thảo luận trong 'Thủ Thuật và Hướng Dẫn'

  1. rainvn

    rainvn Tự mình đứng lên

    Cách sử dụng photoshop cs4,Cách sử dụng photoshop cs4,Cách sử dụng photoshop cs4,


    Bài 3 (Phần 1): Lý thuyết màu


    TTO - Chỉnh sửa màu sắc cho hình ảnh là một trong những chức năng quan trọng nhất của Photoshop, vì vậy việc tìm hiểu về lý thuyết màu sẽ giúp bạn sử dụng Photoshop một cách hiệu quả.

    I. Mô hình màu cộng (additive color model)
    Màu cộng là nền tảng của mọi màu sắc, vì bắt nguồn từ nguyên lý cảm nhận màu của mắt. Võng mạc trong đáy mắt người có những tế bào hình nón nhạy cảm với các màu đỏ (red), lục (green) và lam (blue). Các tế bào này truyền tín hiệu riêng lẻ đến não bộ, ở đó hình ảnh được tổng hợp thành tất cả màu sắc. Ngoài ra còn có tế bào hình que nhạy cảm với các sắc độ sáng tối của màu sắc.


    Chúng ta cảm nhận được màu sắc nhờ ánh sáng phản chiếu từ vật thể và đi đến mắt của chúng ta

    Năm 1704, nhà bác học nổi tiếng người Anh Isaac Newton đã phân giải được ánh sáng trắng thành 7 sắc cầu vồng là tím - chàm - lam - lục - vàng - cam - đỏ, trong đó tím, chàm, vàng, cam có thể tạo ra từ đỏ, lục và lam. Do đó đỏ, lục và lam được xem là 3 màu căn bản (primary colors) để tạo ra bất kỳ màu sắc nào khác.
    Mặt khác, khoa học cũng chứng minh ánh sáng chính là một dạng năng lượng được bức xạ dưới dạng sóng lan tỏa với vận tốc 300.000 km/giây. Ánh sáng có màu khác nhau là do bước sóng khác nhau. Quang phổ mà mắt người nhìn thấy được chỉ là một khe rất hẹp trên thang sóng điện từ, trải từ sắc tím thẫm 380nm (nanomét, đơn vị đo chiều dài bằng 1 phần triệu milimét) đến sắc đỏ thẫm 780nm.



    Quang phổ khả kiến Nguời ta gọi mô hình màu cộng là mô hình RGB. Nguyên lý này được ứng dụng trong công nghệ chế tạo màn hình tivi, màn hình máy vi tính, kỹ thuật video, chiếu sáng…


    Tất cả các màu nằm trong quang khổ khả kiến đều có thể được tạo ra bằng cách thay đổi cường độ của 3 ánh sáng: red, green, blue

    Trong Photoshop:


    R
    G
    B
    Đỏ (Red)
    255
    0
    0
    Lục (Green)
    0
    255
    0
    Lam (Blue)
    0
    0
    255
    Lam - lục (Cyan)
    0
    255
    255
    Đỏ cánh sen (Magenta)
    255
    0
    255
    Vàng (Yellow)
    255
    255
    0
    Đen
    0
    0
    0
    Trắng
    255
    255
    255
    Xám 50%
    128
    128
    128


    II. Mô hình màu trừ (
    subtractive color model)
    Mô hình màu cộng bắt đầu từ màu đen (một màn hình tivi trống và cộng màu R, G, B để có được màu trắng). Ngược lại mô hình màu trừ bắt đầu với màu trắng (một tờ giấy trắng được chiếu bằng ánh sáng trắng và trừ đi màu R,G, B của ánh sáng trắng để có được màu đen).
    Việc loại bỏ ánh sáng R, G, B được thực hiện bằng việc in chồng các màu mực lam - lục (cyan), đỏ cánh sen (magenta) và vàng (yellow). Mực Cyan có tác dụng hấp thu ánh sáng red, mực Magenta hấp thu ánh sáng green, mực Yellow hấp thu ánh sáng blue.


    Mực Cyan hấp thu ánh sáng đỏ - mực Magenta hấp thu ánh sáng lục - mực Yellow hấp thu ánh sáng lam Bất kỳ màu nào trong khoảng màu phục chế (CMYK gamut) được đều có thể đạt được bằng cách thay đổi tỷ lệ mực màu C, M, Y. Mô hình màu trừ được sử dụng cho kỹ thuật nhiếp ảnh màu hiện đại và trong tất cả các quá trình in màu công nghiệp. Trên thực tế do mực in không tinh khiết nên khi 3 màu C, M, Y chồng lên nhau vẫn không tạo ra được màu đen thật sự. Và ngành in phải dùng thêm một bản in với mực đen để bổ trợ cho C, M, Y để tạo thêm chi tiết và chiều sâu cho hình ảnh.



    [​IMG]


    Trong ngành in, 4 màu CMYK được gọi là 4 màu process colors

    Trong in ấn, để tạo ra màu đỏ cờ (Red) người ta in chồng đỏ cánh sen (Magenta) và vàng (Yellow). Tương tự ta có:


    C (%)
    M(%)
    Y(%)
    K(%)
    Đỏ cờ (Red)
    0
    100
    100
    0
    Xanh lá (Green)
    100
    0
    100
    0
    Xanh tím (Blue)
    100
    100
    0
    0
    Màu trắng
    0
    0
    0
    0
    Cam
    0
    50
    100
    0
    Xanh ngọc
    40
    0
    20
    0
    Xanh bầu trời
    60
    20
    0
    0
    Màu hồng
    5
    40
    5
    0
    Màu be
    5
    5
    15
    0



    Bằng kỹ thuật tram hóa (screening) hình ảnh màu được phục chế bằng cách in chồng các hạt tram (screen dot) với 4 màu C, M, Y, K theo 4 góc khác nhau
    Bài 3 (Phần 2): Lý thuyết màu (tiếp theo)


    TTO - III. Mô hình HSB (Hue, Saturation, Brightness)
    a. Hue (sắc màu): Thông thường, sắc màu chính là tên của màu. Ví dụ: đỏ, cam, lục… Các sắc màu khác nhau được biểu diễn trên vòng tròn màu và có giá trị từ 0o đến 360o.



    [​IMG]
    Vòng tròn màu Người ta cũng có thể biểu diễn Hue theo mô hình 3 chiều dưới đây:



    Trong Photoshop, để chọn màu ta bấm chuột vào biểu tượng Foreground color hoặc Background color.



    Khi đó, hộp thoại Color Picker sẽ hiện ra:


    b. Saturation (độ bão hòa màu): Độ bão hòa màu thể hiện độ thuần khiết của màu. Khi có độ bão hòa cao, màu sẽ sạch và rực rỡ. Khi có độ bão hòa thấp, màu sẽ đục và xỉn. Độ bão hòa thay đổi từ 0% (xám) đến 100%.


    Trên vòng tròn màu, độ bão hòa màu tăng dần từ tâm ra chu vi


    c. Brightness (độ sáng): Độ sáng của một màu mô tả nó sáng hay tối như thế nào. Độ sáng thay đổi từ 0% đến 100%.



    Trong mô hình 3 chiều, độ sáng tăng dần từ đáy lên đỉnh


    IV. Mô hình CIE Lab

    Mô hình CIE L*a*b* được xây dựng dựa trên khả năng cảm nhận màu của mắt người. Các giá trị Lab mô tả tất cả những màu mà mắt một người bình thường có thể nhìn thấy được. Lab được xem là một mô hình màu độc lập đối với thiết bị và thường được sử dụng như một cơ sở tham chiếu khi chuyển đổi một màu từ một không gian màu này sang một không gian màu khác.

    Theo mô hình Lab, tất cả các màu có cùng một độ sáng sẽ nằm trên cùng một mặt phẳng có dạng hình tròn theo 2 trục a* và b*. Màu có giá trị a* dương thì ngả đỏ, màu có giá trị a* âm thì ngả lục. Tương tự b* dương thì ngả vàng và b* âm thì ngả lam. Còn độ sáng của màu thì thay đổi theo trục dọc.


    V. Tại sao màu sắc không giống nhau
    Không có một thiết bị nào trong các hệ thống in ấn có khả năng phục chế được toàn bộ quang phổ màu mà mắt người nhìn thấy được. Mỗi thiết bị đều hoạt động trong một không gian màu hữu hạn nào đó. Mô hình CIE Lab có không gian màu cố định vì được xây dựng dựa trên khả năng cảm nhận màu của mắt người. Mô hình Labđộc lập đối với thiết bị. Các mô hình còn lại như: RGB, CMYK, HSB thì có thể có nhiều không gian màu khác nhau và phụ thuộc vào thiết bị.


    Do có các không gian màu khác nhau nên màu sắc của tài liệu được thể hiện trên các thiết bị khác nhau cũng sẽ không giống nhau. Sự khác biệt về màu sắc có thể phát sinh do hình ảnh được tạo ra từ nhiều nguồn khác nhau (từ máy quét, từ máy ảnh số…); các phần mềm đồ họa định nghĩa màu cũng khác nhau; vật liệu in khác nhau (giấy in báo có không gian màu hẹp hơn giấy couché); và do thiết bị được chế tạo từ các nhà sản xuất khác nhau; tuổi thọ thiết bị khác nhau…


    Các thiết bị khác nhau có không gian màu khác nhauBài 4 - Phần 2: Vùng chọn trong Photoshop (Phần 2)


    TTO - Trong Bài 4 (Phần 1) các bạn đã làm quen về khái niệm vùng chọn trong Photoshop và một số công cụ để tạo vùng chọn. Trong Phần 2 này, các bạn sẽ tiếp tục tìm hiểu thêm hai công cụ để tạo vùng chọn và một số thao tác trên vùng chọn.


    Adobe Photoshop CS4 8. Công cụ Quick Selection (phím tắt là W)
    Công cụ này chỉ xuất hiện kể từ Adobe Photoshop CS3. Với công cụ này, bạn có thể chọn nhanh 1 vùng chọn bằng cách dùng một đầu cọ tròn có đường kính thay đổi được để tô lên phần hình ảnh cần chọn.

    Thanh tùy chọn của công cụ Quick Selection Cách sử dụng:
    – Chọn công cụ Quick Selection
    – Trên thanh tùy chọn (options bar), chọn chế độ: New (để tạo một vùng chọn mới), Add to selection (để thêm vào vùng chọn) hoặc Subtract from selection (để trừ bớt vùng chọn).
    – Chọn Brush menu hoặc nhấn phím [] để thay đổi đường kính đầu cọ của công cụ.
    – Chọn chức năng Sample All Layers để tạo vùng chọn dựa trên dữ liệu của tất cả các layers thay vì chỉ dựa trên layer hiện hành.
    – Chọn chức năng Auto-Enhance để giúp cho vùng chọn được “trơn” hơn.
    – Tô vào vùng hình ảnh cần chọn.
    Nếu bạn ngừng rê chuột, rồi sau đó rê tiếp vào vùng lân cận thì vùng chọn sẽ lớn ra và bao gồm cả vùng mới này.

    Tô bằng công cụ Quick Selection để mở rộng vùng chọn
    9. Công cụ Magic Wand (W)
    Công cụ này được gọi là “cây đũa thần”, cho phép tạo vùng chọn bao gồm những điểm ảnh (pixel) có màu tương tự với điểm mà ta click chuột vào. Sai số là Tolerance (thay đổi từ 0 đến 255).


    Công cụ này dùng để chọn những vùng hình ảnh có màu sắc gần như đồng nhất
    Cách sử dụng:
    – Chọn công cụ Magic Wand .
    – Trên thanh tùy chọn (options bar), có các tùy chọn cho công cụ này như sau:

    A: tạo vùng chọn mới
    B: thêm vào vùng chọn
    C: trừ bớt vùng chọn
    D: lấy phần giao của 2 vùng chọn
    • Xác định giá trị Tolerance (0 – 255). Cho Tolerance có giá trị nhỏ để chỉ chọn những điểm ảnh rất giống với điểm ảnh mà bạn sẽ click chuột vào. Cho Tolerance có giá trị lớn để chọn vùng màu rộng hơn.


    Tolerance = 60 Tolerance = 100 • Anti-aliased để biên của vùng chọn được trơn, dịu.
    Contiguous cho phép chọn vùng chọn liền kề (contiguous) hoặc không liền kề (non-contiguous).


    Thanh tùy chọn của công cụ Magic Wand III. Một số thao tác với vùng chọn
    1. Tô vùng chọn với màu của Foreground color: Nhấn phím Alt + Delete
    2. Tô vùng chọn với màu của Background color: Nhấn phím Ctrl + Delete


    3. Chọn toàn bộ hình ảnh: Chọn Select > All (Ctrl + A)
    4. Hủy bỏ vùng chọn: Chọn Select > Deselect (Ctrl + D)
    5. Chọn trở lại vùng chọn vừa hủy bỏ: Chọn Select > Reselect (Ctrl + Shift + D)
    6. Đảo vùng chọn: Chọn Select > Inverse (Ctrl + Shift + I hoặc Shift + F7)


    Đảo vùng chọn 7. Hiện/giấu vùng chọn: Chọn View > Show > Selection Edges (Ctrl + H)
    8. Cộng thêm vùng chọn: Giả sử bạn đã có một vùng chọn. Nhấn giữ phím Shift, rồi tạo một vùng chọn mới (bằng một trong các công cụ tạo vùng chọn) để cộng thêm vào vùng chọn sẵn có. Để ý rằng có một dấu cộng xuất hiện cạnh bên con trỏ khi bạn vẽ.


    Để cộng thêm vùng chọn, thay vì nhấn giữ Shift, bạn có thể chọn biểu tượng trên thanh tùy chọn

    9. Trừ bớt vùng chọn: Giả sử bạn đã có một vùng chọn. Nhấn giữ phím Alt, rồi tạo một vùng chọn mới (bằng một trong các công cụ tạo vùng chọn) để trừ bớt vùng chọn sẵn có. Để ý rằng có một dấu trừ xuất hiện cạnh bên con trỏ khi bạn vẽ.

    Để trừ bớt vùng chọn, thay vì nhấn giữ phím Alt, bạn có thể chọn biểu tượng trên thanh tùy chọn

    10. Lấy phần giao của hai vùng chọn (intersection)

    Giả sử bạn đã có một vùng chọn. Nhấn giữ phím Alt + Shift , rồi tạo một vùng chọn mới (bằng một trong các công cụ tạo vùng chọn) để lấy phần giao của hai vùng chọn. Để ý rằng có một dấu nhân xuất hiện cạnh bên con trỏ khi bạn vẽ.

    Để lấy phần giao của vùng chọn, thay vì nhấn giữ phím Alt + Shift, bạn có thể chọn biểu tượng trên thanh tùy chọn

    Bài 4 - Phần 3: Vùng chọn trong Photoshop (Phần 3)

    TTO - Trong bài này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về những phương pháp để tinh chỉnh vùng chọn, giúp cho vùng chọn thật khớp với phần hình ảnh mong muốn.

    IV. Các phép biến đổi hình học trên vùng chọn

    Để thực hiện các phép biến đổi hình học trên vùng chọn, bạn chọn Select > Transform Selection. Khi đó tại 4 góc và 4 điểm giữa của vùng chọn sẽ xuất hiện các ô vuông nhỏ, được gọi là các handles.

    a. Co dãn vùng chọn (scale): đặt con trỏ vào 1 trong 8 handles. Khi đó con trỏ có dạng

    Nhấn giữ phím Shift khi co dãn để giữ đúng tỷ lệ vùng chọn

    b. Quay vùng chọn (rotate): đặt con trỏ ra bên ngoài vùng chọn. Khi đó con trỏ có dạng hình mũi tên cong . Nhấn giữ và rê chuột để quay vùng chọn.

    Quay vùng chọn

    c. Kéo nghiêng vùng chọn (skew): đặt con trỏ vào 1 trong 4 handles ở điểm giữa và nhấn giữ phím Ctrl. Khi đó con trỏ có dạng . Nhấn giữ và rê chuột để kéo nghiêng vùng chọn.

    Nhấn giữ phím Shift để giữ cho cạnh của vùng chọn trượt theo phương ngang hoặc phương dọc

    d. Biến dạng vùng chọn (distort): đặt con trỏ vào 1 trong 4 handles ở các góc và nhấn giữ phím Ctrl. Khi đó con trỏ có dạng đầu mũi tên . Nhấn giữ và rê chuột để làm biến dạng vùng chọn, các handles ở các góc còn lại vẫn giữ nguyên vị trí.

    Biến dạng vùng chọn

    e. Tạo phối cảnh cho vùng chọn (perspective):
    đặt con trỏ vào 1 trong 4 handles ở các góc và nhấn giữ đồng thời 3 phím Ctrl, Alt, Shift. Khi đó con trỏ có dạng đầu mũi tên . Nhấn giữ và rê chuột để tạo phối cảnh cho vùng chọn.

    Khi kéo 1 handle vào trong hoặc ra ngoài, handle còn lại trên cạnh cũng sẽ di chuyển theo để tạo ra phối cảnh

    Để kết thúc các quá trình trên, ta bấm đúp chuột vào bên trong vùng chọn hoặc nhấn Enter hoặc bấm chuột vào biểu tượng Commit transform trên thanh tùy chọn

    V. Dời vùng chọn không mang theo nội dung

    Chọn một trong các công cụ tạo vùng chọn mà chúng ta đã tìm hiểu. Sau đó đưa con trỏ vào bên trong vùng chọn, nhấn giữ và rê chuột để dời vùng chọn đến một vị trí khác trên hình ảnh.

    Dời vùng chọn Khi đang sử dụng các công cụ tạo vùng chọn, bạn cũng có thể dời vùng chọn (không mang theo nội dung) bằng cách:

    a. Nhấn các phím mũi tên để dời vùng chọn lên trên, xuống dưới, qua trái, sang phải 1 pixel.

    b. Nhấn giữ Shift, rồi nhấn các phím mũi tên để dời vùng chọn lên trên, xuống dưới, qua trái, sang phải 10 pixels.

    VI. Dời vùng chọn (có mang theo nội dung)

    Chọn công cụ Move (phím tắt là chữ V), đưa con trỏ vào bên trong vùng chọn. Khi đó con trỏ sẽ có dạng . Nhấn giữ và rê chuột để dời vùng chọn cùng với nội dung của nó đến một vị trí khác trên hình ảnh. Khi đó vị trí cũ của vùng chọn sẽ:
    a. được tô bằng màu của background color (nếu bạn đang đứng trên background). Để biết đang đứng ở background hoặc layer, bạn chọn Window > Layers (hoặc nhấn nhấn phím F7) để hiển thị Layers panel

    b. trở thành trong suốt (nếu ta đang đứng trên layer).

    Để sao chép nội dung vùng chọn, trước khi dời vùng chọn bằng công cụ Move ta nhấn và giữ phím Alt. Ngoài ra, công cụ Move còn cho phép dời vùng chọn và nội dung (hoặc toàn bộ hình ảnh) từ một cửa sổ hình ảnh này sang một cửa sổ hình ảnh khác. Khi đó trên cửa sổ hình ảnh đích sẽ xuất hiện một layer mới. Nền của hình ảnh được gọi là background. Còn layers là những lớp trong suốt được đặt lên trên nền background đó.

    Khi đã chọn công cụ Move, bạn cũng có thể dời vùng chọn (có mang theo nội dung) bằng cách:

    a. Nhấn các phím mũi tên để dời vùng chọn và nội dung của nó lên trên, xuống dưới, qua trái, sang phải 1 điểm ảnh.

    b. Nhấn giữ Shift rồi nhấn các phím mũi tên để dời vùng chọn và nội dung của nó lên trên, xuống dưới, qua trái, sang phải 10 điểm ảnh.

    VII. Mở rộng vùng chọn dựa trên màu sắc

    a. Chức năng Select > Grow cho phép mở rộng vùng chọn bằng cách nối thêm những điểm ảnh kế cận và có màu sắc tương tự (với sai số là Tolerance được xác định trong thanh tuỳ chọn của công cụ Magic Wand) vào vùng chọn sẵn có.

    Ảnh bên trái: Vùng chọn ban đầu

    Ảnh bên phải: Sau khi thực hiện lệnh Grow

    b. Chức năng Select > Similar cho phép mở rộng vùng chọn bằng cách nối thêm tất cả những điểm ảnh ở bất kỳ vị trí nào trên hình ảnh và có màu sắc tương tự (với sai số là Tolerance được xác định trong thanh tùy chọn của công cụ Magic Wand) vào vùng chọn sẵn có.

    Ảnh bên trái: Vùng chọn ban đầu
    Ảnh bên phải: Sau khi thực hiện lệnh Similar

    Bài 4: Vùng chọn trong Photoshop (phần 4)

    TTO - Trong bài này chúng ta tiếp tục tìm hiểu về các phương pháp tinh chỉnh vùng chọn, đồng thời làm quen với những cách thức để lưu và nạp vùng chọn.

    Adobe Photoshop CS4 Extended

    VIII. Chỉnh sửa vùng chọn

    a. Chức năng Select > Modify > Border… cho phép tạo khung cho một vùng chọn sẵn có với độ rộng là width. Width có thể thay đổi từ 1-200. Giả sử width có giá trị là 20 thì vùng chọn mới sẽ được tạo thành từ vùng chọn cũ bằng cách lấn vào trong 10 pixels và lấn ra ngoài 10 pixels.

    - Ảnh trái: Hình ảnh ban đầu
    - Ảnh phải: Sau khi thực hiện lệnh Border với width bằng 10 pixels


    b. Chức năng Select > Modify > Smooth… dùng để làm trơn vùng chọn đã được tạo bởi công cụ Magic Wand hoặc bo tròn góc cho vùng chọn hình chữ nhật.

    c. Chức năng Select > Modify > Expand…Select > Modify > Contract… cho phép mở rộng hoặc thu hẹp vùng chọn theo một số điểm ảnh được định bởi giá trị Expand by và Contract by. Giá trị này thay đổi từ 1-100.

    d. Chức năng Select > Modify > Feather… (Ctrl + Alt + D): làm mờ (blur) biên của vùng chọn bằng cách tạo ra một ranh giới chuyển tiếp (transition boundary) giữa vùng chọn và những điểm xung quanh. Việc làm mờ này sẽ làm mất chi tiết của những điểm tại biên của vùng chọn.

    - Hình A: Vùng chọn không được feather, sau đó được tô mẫu (pattern fill)
    - Hình B: Vùng chọn được feather, sau đó được tô mẫu (pattern fill)


    IX. Tinh chỉnh vùng chọn
    Chức năng Select > Refine Edge... (Ctrl + Alt + R) cải thiện chất lượng của vùng chọn và cho phép quan sát vùng chọn với các màu nền khác nhau để dễ hiệu chỉnh.

    – Tạo vùng chọn bằng 1 công cụ chọn bất kỳ
    – Chọn Select > Refine Edge... (Ctrl + Alt + R) để hiển thị hội thoại sau:


    Radius: xác định kích thước của vùng bao xung quanh vùng chọn mà tại đó việc tinh chỉnh vùng chọn sẽ được thực hiện. Bạn có thể tăng giá trị Radius để tạo ra một vùng chọn chính xác cho những vùng có độ chuyển nhẹ nhàng và nhiều chi tiết như lông, tóc hoặc các biên mờ.

    Contrast: làm cho biên của vùng chọn sắc cạnh và loại bỏ chi tiết thừa. Khi Radius có giá trị lớn, bạn cần tăng Contrast để loại bỏ nhiễu tại biên của vùng chọn.

    Smooth: có giá trị từ 0-100 nhằm loại bỏ các “đồi núi” và “thung lũng” trên vùng chọn, giúp cho vùng chọn được trơn hơn.

    Feather: có giá trị từ 0-250 nhằm tạo ra sự chuyển tiếp nhẹ nhàng giữa vùng chọn và những điểm ảnh lân cận.

    Contract/Expand: thu hẹp hoặc nới rộng vùng chọn.

    Nếu đối tượng cần chọn có màu khác biệt với màu nền, bạn hãy tăng Radius, chỉnh Contrast để làm sắc nét biên của vùng chọn, rồi mới điều chỉnh thanh trượt Contract/Expand. Nếu màu của đối tượng cần chọn gần trùng với màu nền bạn hãy điều chỉnh Smooth trước, sau đó đến Feather rồi mới điều chỉnh thanh trượt Contract/Expand.


    A. Xem trước (preview) ở chế độ chuẩn
    B. Xem trước ở chế độ Quick Mask
    C. Xem trước với nền đen
    D. Xem trước với nền trắng
    E. Xem dưới dạng kênh Alpha


    X. Lưu và nạp vùng chọn


    1. Lưu vùng chọn
    Ở mỗi thời điểm chỉ có một vùng chọn. Khi bạn vẽ một vùng chọn mới thì vùng chọn cũ sẽ bị mất. Do đó để lưu vùng chọn nhằm mục đích tái sử dụng, bạn có những cách sau:
    a. Cách 1: Chọn Window > Channels để hiển thị Channels panel. Bấm chuột vào nút Save selection as channel (lưu vùng chọn) của Channels panel.

    Sau khi lưu vùng chọn, trên Channels panel sẽ xuất hiện một kênh mới, gọi là kênh alpha (alpha channel). Mục đích của kênh alpha là dùng để lưu trữ vùng chọn. Vùng trắng trên kênh alpha tượng trưng cho vùng chọn (selected area). Vùng đen trên kênh alpha tượng trưng cho vùng không được chọn (non-selected area) hay còn gọi là vùng bị che (masked area).


    Vùng chọn được lưu trên kênh Alpha

    b. Cách 2: Chọn Select > Save Selection...


    Bạn có thể gõ tên vào trường Name để đặt tên cho kênh Alpha

    2. Nạp vùng chọn
    Nếu muốn nạp trở lại vùng chọn đã được lưu trên kênh alpha, bạn có những cách sau:
    a. Cách 1: Chọn Select > Load Selection... để hiển thị hộp thoại Load Selection


    Chọn kênh Alpha cần nạp. Chọn dấu kiểm Invert để đảo vùng chọn

    b. Cách 2: Trên Channels panel, dùng chuột kéo kênh cần nạp vùng chọn vào nút Load channel as selection


    c. Cách 3: Nhấn giữ phím Ctrl rồi bấm chuột vào kênh cần nạp vùng chọn trên Channels panel.
    Bài 4 - Phần cuối: Vùng chọn trong Photoshop (Phần cuối)


    TTO - Khi bạn tạo một vùng chọn, thì phần hình ảnh không được chọn (non-selected area) được che đi (masked), tức là được bảo vệ trước các thao tác chỉnh sửa hình ảnh. Như vậy khi bạn tạo ra một bản che (mask), bạn đã cô lập và bảo vệ một số phần của hình ảnh trước các thao tác như: chỉnh sửa màu, áp dụng kính lọc (filter), tô vẽ...


    A. Bản che đục (opaque mask) bảo vệ nền background và cho phép hiệu chỉnh con bướm
    B. Bản che đục (opaque mask) bảo vệ con bướm và cho phép hiệu chỉnh nền background
    C. Bản che nửa trong suốt (semitransparent mask) dùng để hiệu chỉnh nền background và một phần của con bướm


    Chế độ Quick Mask
    Chế độ Quick Mask cho phép chuyển vùng chọn thành một bản che tạm (temporary mask) để tiện việc chỉnh sửa vùng chọn. Sự tiện lợi trong việc chỉnh sửa vùng chọn như là một mask là ở chỗ bạn có thể sử dụng hầu hết các công cụ và filter của Photoshop để hiệu chỉnh mask. Mỗi khi bạn thoát khỏi chế độ Quick Mask, mask sẽ được chuyển trở lại thành vùng chọn.
    Cách sử dụng:
    - Vẽ phác một vùng chọn.
    - Chọn nút Edit in Quick Mask mode trên thanh công cụ hoặc nhấn phím Q.


    - Một cách mặc nhiên, khi đó vùng che (masked areas) sẽ được phủ bằng 50% của màu đỏ (red).


    A.Chế độ chuẩn
    B.Chế độ Quick Mask
    C.Vùng chọn được biểu thị bằng màu trắng trên biểu tượng thu nhỏ trên Channels panel
    D. Vùng không chọn được biểu thị bằng màu đen trên biểu tượng thu nhỏ trên Channels panel


    - Để hiệu chỉnh mask, bạn có thể dùng các công cụ tô vẽ hoặc filter. Khi đó, màu foreground và background trên thanh công cụ được tự động chuyển thành đen và trắng. Tô với màu đen là để mở rộng vùng che và thu hẹp vùng chọn. Tô với màu trắng là mở rộng vùng chọn và thu hẹp vùng che. Tô với màu xám là để tạo vùng chọn nửa trong suốt (semi-transparent).
    Để quay trở lại chế độ chuẩn (Standard mode), bạn chọn nút trên thanh công cụ. Khi đó vùng chọn sẽ được hiện trở lại như bình thường.


    A.Vùng chọn ban đầu và chế độ Quick Mask với màu lục tượng trưng cho vùng che
    B.Tô với màu trắng trong chế độ Quick Mask để mở rộng vùng chọn
    C.Tô với màu đen trong chế độ Quick Mask để thu hẹp vùng chọn


    Lưu ý:

    - Để chuyển đổi qua lại giữa 2 chế độ Standard modeQuick Mask mode , bạn có thể bấm phím tắt (Q).

    - Để đảo màu foreground color và backgound color, bạn bấm chuột vào biểu tượng trên thanh công cụ hoặc bấm phím tắt (X).

    - Vùng chọn tạo bởi chế độ Quick Mask chỉ là vùng chọn tạm thời. Để lưu vùng chọn này thành kênh alpha, bạn hãy sử dụng những cách đã tìm hiểu trong phần

    Lưu và nạp vùng chọn
    .

    Thay đổi tùy chọn của Quick Mask
    Muốn thay đổi các tùy chọn của chế độ Quick Mask, bạn bấm đúp chuột vào biểu tượng


    Mặc định 50% red tượng trưng cho vùng che (masked areas). Bạn có thể bấm chuột vào ô màu để thay đổi màu mặc định


    Masked Areas: chọn tùy chọn này để định vùng che là đen (đục) và vùng chọn là trắng (trong suốt). Tô với đen để mở rộng vùng che; tô với trắng để mở rộng vùng chọn. Khi chọn tùy chọn này, nút Quick Mask trên thanh công cụ có dạng hình tròn màu trắng trên nền xám

    Selected Areas: chọn tùy chọn này để định vùng che là trắng (trong suốt) và vùng chọn là đen (đục). Tô với trắng để mở rộng vùng che; tô với đen mở rộng vùng chọn. Khi chọn tùy chọn này, nút Quick Mask trên thanh công cụ có dạng hình tròn màu xám trên nền trắng

    Mẹo: Để chuyển đổi qua lại giữa 2 tùy chọn Masked AreasSelected Areas của chế độ Quick Mask, bạn có thể nhấn giữ phímAlt và bấm chuột vào nút Quick Mask trên thanh công cụ.
    .Nhấn giữ và rê chuột để co dãn vùng chọn. trên thanh công cụ để hiển thị hộp thoại sau:


    Cach su dung photoshop cs4 Cach su dung photoshop cs4 Cach su dung photoshop cs4

    Nguồn
    maithucloan.info
    Last edited: 13/5/13

Chia sẻ trang này